Người Việt tại Hàn Quốc: Hội người Việt được hỗ trợ trên đất khách

Di cư của người Việt Nam sang Hàn Quốc bắt đầu rất sớm, nhưng nhanh chóng tăng lên một quy mô lớn hơn; Dân số của họ bao gồm chủ yếu là lao động di cư và phụ nữ giới thiệu với chồng địa phương thông qua các cơ quan hôn nhân. Năm 1994, có 20.493 người di cư lao động từ Việt Nam sang Hàn Quốc đi du học;

Đến năm 1997, tỷ lệ này đã tăng khoảng 10% lên 22.325. Người nhập cư chủ yếu là nam và không có tay nghề; Họ đã được sử dụng trong các công ty vừa và nhỏ trong các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động như đánh cá và sản xuất. Quá trình di dân có một lịch sử lâu hơn một chút; Trong chiến tranh Việt Nam, một số trong số hơn 300.000 lính Hàn Quốc và nhân viên hỗ trợ dân sự đóng tại Việt Nam cưới vợ Việt Nam và đưa họ về Hàn Quốc; T

uy nhiên, nhiều cuộc hôn nhân này kết thúc bằng ly hôn. Di cư di dân sẽ không trở thành một hiện tượng quy mô lớn cho đến những năm 1990, khi đàn ông Hàn Quốc bắt đầu chuyển sang các cơ quan hôn nhân để tìm kiếm cô dâu ở nước ngoài, trong đó có Việt Nam.

Tính đến năm 2006, hàng năm có 5.000 cô dâu Việt Nam di cư đến Hàn Quốc mỗi năm Những người đàn ông Hàn Quốc kết hôn với phụ nữ Việt Nam thường gặp nhau trong các cuộc du lịch kết hôn, đôi khi được trợ cấp bởi các chính quyền nông thôn muốn tăng tỷ lệ sinh ở vùng nông thôn Hàn Quốc

Hội người Việt tại Hàn tuy mới hoạt động nhưng đã có nhiều những hoạt động thiết thực trợ giúp cộng đồng người Việt có thể hòa nhập vào nước sở tại và an gia lập nghiệp để có thể làm ăn sinh sống.

Như những Hội người Việt của các nước trên thế giới hiện nay, Hội người Việt Nam ở Hàn mới thành lập và đi vào hoạt động được 3 năm nhưng vẫn thiết thực và giúp đỡ được người Việt hòa nhập vào nước sở tại, tập trung yên ổn làm ăn trên đất khách.

Tiếng Việt được  trở thành ngoại ngữ để học sinh Hàn thi vào đại học

Theo một báo cáo cảu Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc có khoảng 117.215 người, đa số là lao động xuất khẩu, cô dâu Việt lấy chồng Hàn và khoảng 5.000 du học sinh đến để học tập.  Ngoài ra, có khoảng 5.000 người Việt thuộc dòng họ Lý Hoa Sơn và Lý Tinh Thiện là hậu duệ đời nhà Lý ở Việt Nam di cư sang Hàn Quốc từ thế kỷ thứ 12, 13. Mặc dù cộng đồng người Việt ở Hàn Quốc tuy không đông về số lượng nhưng đã có những hành động thiết thực giúp nhau một cách giản đơn nhưng đầy nghĩa tình dân tộc, đóng góp cho nước nhà trong những năm qua khá nhiều.

Không những vậy, Văn hóa Việt, tiếng Việt rất được người Hàn Quốc xem trọng. Để người dân xứ sở Kim Chi yêu thích và hiểu văn hóa Việt, Hội đã phải rất nỗ lực trong việc tổ chức các lễ hội truyền thống của Việt Nam, đưa  hình ảnh đất nước con người Việt đến với bạn bè Hàn Quốc. Hiện nay, áo dài và phở đã trở thành biểu tượng và món ăn đặc trưng phổ biến ở đó. Không những có vậy, tiếng Việt hiện cũng đang trở thành ngôn ngữ rất thịnh hành ở Hàn. Những người học chuyên ngành tiếng Việt khi tốt nghiệp đều đang được chủ doanh nghiệp “trải thảm” đỏ đón nhận vào làm. Và tiếng Việt sẽ là một trong những ngoại ngữ tự chọn để thí sinh tại Hàn Quốc thi vào các trường đại học bắt đầu từ năm 2013Tuy Hội người Việt mới được thành lập trong những năm gần đây, số lượng thành viên lại không nhiều nhưng họ đã được người dân bản xứ đánh giá cao về khả năng tiếp thu, sự hòa nhập vào cộng đồng và những đóng góp tích cực cho nước sở tại.

Tự hào là cô dâu Việt

Tại sao nhiều nam giới Nam Hàn lại tìm kiếm cô dâu nước ngoài

Hàn Quốc đã và đang vật lộn với sự thay đổi nhân khẩu học khiến nhiều người đàn ông trung niên tìm kiếm cô dâu nước ngoài để bắt đầu một gia đình.

Nói một cách đơn giản, kết hôn với cô dâu Việt và chìa khóa của hạnh phúc trong ngôi nhà đa văn hóa của cô là tình yêu và sự hiểu biết. Điều đó có vẻ như là một điều kiện tiên quyết đau đớn cho hầu hết các cuộc hôn nhân, nhưng đối với nhiều người nhập cư ở Hàn Quốc, nó không phải lúc nào cũng làm việc theo cách đó.

Hàn Quốc đã và đang vật lộn với sự thay đổi nhân khẩu học đã khiến nhiều người đàn ông trung niên – đặc biệt là ở vùng nông thôn – trôi dạt trong tình trạng thâm hụt vợ ở một quốc gia có phần thưởng cho hình ảnh hồng hào của hôn nhân.

Là phụ nữ trẻ và quyết đoán – những người phụ nữ Hàn Quốc  từ bỏ quê hương của mình tìm kiếm cho sự nghiệp tại các thành phố lớn, những người đàn ông bỏ lại phía sau đang ngày càng tìm kiếm những cô dâu nước ngoài trong đó có Việt Nam. Điều đó có nghĩa là một dòng chảy từ các quốc gia Châu Á nghèo hơn như Việt Nam, Philippines, Campuchia và Mông Cổ. Số liệu của chính phủ cho thấy số người Hàn Quốc kết hôn với vợ / chồng ngoại quốc tăng từ 4.710 năm 1990 lên 33.300 vào năm 2009. Và con số sẽ tiếp tục gia tăng.

Việt Nam gửi 2.900 lao động sang Hàn Quốc trong năm nay

Việt Nam gửi 2.900 lao động sang Hàn Quốc trong năm nay

Có đến 2.900 người lao động Việt Nam sẽ được gửi sang Hàn Quốc làm việc năm nay theo một Bản ghi thỏa thuận đặc biệt được ký kết giữa Việt Nam và các nước Đông Á.

Bản ghi thỏa thuận vừa được Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Việt Nam (MOLISA) và Bộ Lao động và Việc làm Hàn Quốc (MOEL) ký kết, Theo báo cáo Thông tấn xã Việt Nam hôm thứ Ba.

Đây là bản ghi đặc biệt lần thứ 2 đã được ký kết cho Việt Nam tiếp tục gửi công dân của mình đến Hàn Quốc làm việc theo chương trình Hệ thuống giấy phép tuyển dụng (EPS), được ký kết giữa hai nước trong năm 2008 nhưng đã bị tạm dừng bởi Hàn Quốc vào tháng 8 năm 2012 theo các báo cáo trên một số lượng lớn lao động Việt quá hạn thị thực làm việc bất hợp pháp tại nước này.

Bản ghi thỏa thuận đầu tiên tiếp tục chương trình EPS được ký kết giữa hai nước trong tháng 9 năm 2013 và hết hạn vào ngày 31 Tháng 12 năm 2014.

Theo Bản ghi thỏa thuận thứ hai, Bộ Lao động và Việc làm Hàn Quốc cho phép phía Việt Nam thực hiện đăng ký trực tuyến 5.400 hồ sơ của những người Việt Nam muốn làm việc tại Hàn Quốc, Cục Quản lý lao động ngoài nước của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cho biết.

Bộ Lao động và Việc làm Hàn Quốc sau đó sẽ chọn 2.900 hồ sơ hầu hết từ các ứng viên là những lao động trong các lĩnh vực sản xuất, xây dựng, và nông nghiệp năm 2015.

Theo bản ghi thỏa thuận, việc lựa chọn sẽ tập trung vào hai nhóm ứng viên người Việt.

Trước tiên gồm những người đã vượt qua một trong những kỳ thi tiếng Hàn được tổ chức vào tháng 12 năm 2011, tháng 5 năm 2012, tháng 8 năm 2012, và tháng ba năm 2014 nhưng đến nay vẫn chưa được lựa chọn bởi những nhà tuyển dụng lao Hàn Quốc.

Thứ hai gồm những người trở về Việt Nam theo đúng lịch trình sau khi làm việc ở Hàn Quốc và vượt qua một trong các bài kiểm tra tiếng Hàn tổ chức sau tháng 12 năm 2011, nhưng họ vẫn chưa được lựa chọn bởi các doanh nghiệp Hàn Quốc.

Những hồ sơ của các ứng viên trong hai nhóm này được yêu cầu gửi đến Hàn Quốc trong vòng ba tháng và 10 ngày kể từ ngày 10 tháng 4, theo Bản ghi thỏa thuận.

Những hồ sơ này sẽ có giá trị để xem xét trong một năm, theo Bản ghi.

Các ứng viên có thể liên hệ với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hoặc Trung tâm lao động ngoài nước để biết thêm thông tin và hướng dẫn.

Việc ký kết Bản ghi thỏa thuận mới phản ánh sự công nhận những nỗ lực của Việt Nam trong việc thực hiện các biện pháp để giảm bớt số lượng công nhân Việt lưu lại quá hạn thị thực để sống và làm việc bất hợp pháp tại nước Đông Á.

Theo quy định của chính phủ Việt Nam có hiệu lực vào ngày 21 tháng 8 năm 2013, các ứng viên được gửi đến Hàn Quốc làm việc theo chương trình Hệ thống giấy phép tuyển dụng (EPS) được yêu cầu phải trả tiền đặt cọc không hoàn lại 4800 đô.

Việc thu thập số tiền này có nghĩa là để giữ người lao động theo chương trình Hệ thống giấy phép tuyển dụng có trách nhiệm hơn đối với những gì họ làm nơi đất khách.

Trợ cấp thất nghiệp và bảo hiểm bồi thường tai nạn nghề nghiệp tại Nhật

Trợ cấp thất nghiệp và bảo hiểm bồi thường tai nạn nghề nghiệp

Hệ thống an toàn xã hội của Nhật bảo đảm cho các nhân viên bị sa thải hoặc bị tai nạn nghề nghiệp được tiếp cận với các quý hỗ trợ như bảo hiểm việc làm, bồi thường tai nạn nghề nghiệp. Dưới đây là một vài nét về 2 loại quỹ này và cách thức để người đi làm nhận được chúng.

Bảo hiểm việc làm

Quy định về bảo hiểm việc làm ở Nhật khá dễ hiểu. Nếu công nhân bị thất nghiệp, họ sẽ được nhận tiền hỗ trợ cho đến khi tìm được một công việc mới hoặc trong vòng sáu tháng (tùy theo bạn tìm được việc trước hay thời hạn 6 tháng đến trước).

Để được nhận các khoản trợ cấp này, trước tiên ban phải đăng ký với văn phòng công về an toàn nghề nghiệp gần nơi bạn ở nhất. Khi đi bạn cần mang theo thông báo separation(rishoku-hyo), thẻ bảo hiểm, thẻ đăng ký cho người nước ngoài và một hình thẻ mới chụp. Thẻ bảo hiểm sẽ được nhà tuyển dụng phát khi bạn bắt đầu làm việc, và trái ngược với nó là thông báo separation chỉ được cung cấp khi bạn nghỉ việc.

Khi bạn đã đăng ký tình trạng thất nghiệp, bạn phải chờ trong một thời gian nhất định để được xem xét có đủ tiêu chuẩn nhận trợ cấp hay không, thông thường là 7 ngày và kéo dài đến 3 tháng với trường hợp thất nghiệp vì là người gây ra một vụ xâm phạm nghiêm trọng hoặc đã nộp đơn xin nghỉ mà không có đầy đủ lý do theo quyết định của văn phòng an toàn lao động.

Dĩ nhiên khi bạn tìm được việc mới, bạn phải quay lại văn phòng an toàn lao động để cập nhật tình hình làm việc và ngưng nhận trợ cấp thất nghiệp từ lúc đó.

Bảo hiểm bồi thường tai nạn nghề nghiệp

Mọi doanh nghiệp có nhiều hơn một nhân viên đều có thể là đối tượng tham gia bảo hiểm tai nạn. Tiền đóng bảo hiểm tai nạn sẽ được người sử dụng lao động chi trả theo một tỉ lệ phần trăm nhất định tính trên tiền lương của nhân viên. Tỉ lệ này dao động từ 0,3% tới 10,3% tùy theo mức độ nguy hiểm trong nghề nghiệp, ví dụ kế toán quản trị có tỉ lệ bảo hiểm gần 0,3%, trong khi tỉ lệ này ở thợ hàn công nghiệp là gần 10%.

Nếu bạn bị thương khi đang làm việc, bạn sẽ được trợ cấp cho các loại điều trị phát sinh từ thương tật này mà bác sĩ yêu cầu. Sau 4 ngày nghỉ việc, bạn còn được trợ cấp cộng thêm cho những ngày không có kh ả năng làm việc. Số tiền trợ cập chính xác sẽ tùy thuộc vào mức độ trầm trọng của thương tật.

Nếu một công nhân chết do tai nạn nghề nghiệp, trợ cấp sẽ được chi trả cho người thân còn sống của công nhân đó.

 

Tìm việc ở Nhật-Thư dự tuyển (cover letter) và sơ yếu lý lịch nghề nghiệp

Tìm việc ở Nhật-Thư dự tuyển (cover letter) và sơ yếu lý lịch nghề nghiệp (CV)

Để nộp đơn cho một công việc ở Nhật, hãy chuẩn bị cho bạn một bản CV/resume và cover letter tốt. Sau đây là một vài hướng dẫn sơ lược về 2 văn bản này.

Hồ sơ tìm việc

Điều trước tiên khi nộp đơn vào một công ty ở Nhật là tìm hiểu đặc điểm của doanh nghiệp đó và ban quản trị là người Mỹ, châu Âu hay người Nhật để định dạng các tài liệu trong hồ sơ tìm việc cho phù hợp.

Sơ yếu lý lịch nghề nghiệp (CV/resume) kiểu Nhật

Nếu có thể, hồ sơ nộp vào các công ty Nhật nên có một resume kiểu Nhật (tiếng Nhật gọi là rirekisho). Thông thường một rirekisho gồm 2 trang:

Trang 1

  • Tên và thông tin liên lạc bao gồm cả email
  • Tuổi, giới tính, quốc tịch
  • Tóm tắt bằng cấp, năng lực (ít hơn 3 dòng)
  • Các chương trình đào tạo học thuật đã tham gia theo trình tự thời gian từ khóa học gần nhất, bao gồm số năm học, tên trường đào tạo, bằng cấp đạt được.

Trang 2

  • Kinh nghiệm làm việc cũng theo trình tự thời gian từ mục gần nhất, bao gồm các kỹ năng trong công việc đã/đang làm, chức danh và vị trí, tên công ty, thời gian làm việc.
  • Sở thích hoặc hoạt động khác liên quan tới công việc
  • Tham khảo (tùy ý). Bạn có thể viết đơn giản “Người tham khảo: sẽ cung cấp theo yêu cầu”. Nếu bạn muốn liệt kê danh sách người tham khảo thì hãy đảm bảo họ phù hợp với vị trí mà bạn đang nộp hồ sơ, họ đã biết bạn lâu hơn 2 năm và thông tin liên lạc của họ là mới nhất.

Trước khi nộp đơn, hãy dán thêm một tấm hình theo kích cỡ hộ chiếu vào trang 1 và ghim tất cả văn bản bằng kẹp giấy cho gọn gàng.

Một số người nước ngoài (nhất là người Mỹ) thường làm dày resume bằng những thông tin thừa thãi như cố gắng liệt kê càng nhiều bằng cấp, khả năng càng tốt (thậm chí là thổi phồng một số mục). Tuy nhiên, bạn nên trung thực trong resume kiểu Nhật. Hãy thận trong nếu bạn băn khoăn có nên đưa vào resume một bằng cấp nào đó không vì sự dối trá có thể khiến bạn phải trả giá trong buổi phỏng vấn.

 Thư dự tuyển (cover letter) kiểu Nhật

Một cover letter theo phong cách Nhật Bản có độ dài không quá một trang, dùng để tóm tắt công việc trong quá khứ và mục tiêu tương lai. Cover letter phải thể hiện được những kỹ năng của bạn và những ý tưởng có giá trị với công ty trong tương lai. Bạn cũng có thể nêu nguyện vọng cam kết lâu dài với công ty vì văn hóa kinh doanh Nhật đề cao sự trung thành trong doanh nghiệp. Bạn cũng nên nhờ người dịch sang tiếng Nhật cả rirekisho lẫn cover letter của bạn.

Các mẫu rirekisho thường có sẵn ở nhiều cửa hàng tiện lợi và hầu hết nhà sách tại Nhật. Và hiện nay việc các công ty chấp nhận các mẫu resume/CV/rirekisho trên mạng cũng khá phổ biến.

 

Tìm việc ở Nhật-Phỏng vấn

Tìm việc ở Nhật-Phỏng vấn

Khi một công ty Nhật chú ý đến một ứng viên, họ sẽ đề nghị ứng viên tham gia phỏng vấn. Các cuộc phỏng vấn sẽ có đặc điểm và bối cảnh khác nhau: phỏng vấn một-một trong văn phòng hoặc hội thảo video với cả ban phỏng vấn. Hãy duy trì phong thái của bạn và chuẩn bị thật tốt để thích ứng với các tình huống khác thường.

Các ứng viên nên đến theo đúng thời gian đã định cho buổi phỏng vấn của họ, không nên đến sớm và trong bất cứ tình huống nào cũng đừng đến trễ. Trang phục phỏng vấn luôn luôn là trang phục kinh doanh trang trọng: vest tối màu với nam và váy/vest với nữ. Nam giới nên cạo râu, cắt tóc sạch sẽ và không nên đeo khuyên tai. Việc đeo trang sức trên mặt cũng là điều không được chấp nhận với cả nam và nữ, và nếu bạn có xăm mình thì không nên để lộ những hình ảnh đó.

Hãy lắng nghe các câu hỏi phỏng vấn một cách cẩn thận, đưa ra các câu trả lời ngắn gọn và có độ dài phù hợp. Người Nhật thường không sử dụng tay khi nói chuyện, vì vậy tốt nhất là người được phỏng vấn nên để tay lên bàn hoặc trên đùi, kể cả khi họ đến từ một đất nước mà việc minh họa bằng tay khi nói chuyện là chuyện bình thường (ví dụ như các nước phương Tây). Người Nhật cũng thường tránh tiếp xúc bằng mắt trực tiếp khi giao tiếp, và việc nhìn chăm chú bị xem là bất lịch sự.

Các câu hỏi sẽ khá đa dạng từ những câu liên quan đến công việc tới các câu kỳ quái, vì thỉnh thoảng các nhà phỏng vấn Nhật Bản sẽ dùng các câu hỏi bất lịch sự hoặc kỳ lạ để thử phản ứng khi bị căng thẳng của ứng viên và họ thường muốn khai thác thông tin về gia đình ứng viên. Bạn nên lịch sự từ chối trả lời các câu hỏi mà bạn cảm thấy bị xúc phạm.

Hãy chuẩn bị tốt để sẵn sàng thảo luận với khả năng ngôn ngữ lưu loạt và kiến thức về văn hóa Nhật. Các chủ doanh nghiệp thường dùng những yếu tố này để xác định xem bạn có khả năng hòa nhập với đồng nghiệp Nhật hay không.

Hầu hết các vị trí thường được phỏng vấn nhiều hơn một lần, vì vậy đừng ngạc nhiên nếu bạn trải qua một vài cuộc phỏng vấn trước khi nhận thư mời nhận việc hoặc thư từ chối.

Lưu ý về thư mời nhận việc (job offer)

Những ai may mắn nhận được thư mời nhận việc tại Nhật sẽ thấy lương của họ được nêu ra theo dạng khoảng lương chứ không phải một con số chính xác. Hãy tham khảo khoảng lương này để ra quyết định vì việc đòi hỏi một con số chính xác trong giai đoạn nhận việc là một sự thô lỗ ở xứ sở mặt trời mọc. Nếu bạn nhận vị trí đó, các phúc lợi và mức lương cụ thể sẽ được nêu trong hợp đồng lao động chính thức.

 

 

 

Cơ hội làm dịch thuật viên và sáng tạo nội dung ở Nhật

Cùng với giảng dạy tiếng Anh, dịch thuật và viết nội dung tiếng Anh là những công việc có nhiều cơ hội tuyển dụng nhất cho người nước ngoài có vốn tiếng Anh tốt tại Nhật.

Tìm việc làm tiếng Nhật tại Việt Nam
https://www.careerlink.vn/viec-lam/bien-phien-dich-tieng-nhat/154

Dịch thuật là một công việc chuyển tiếp từ nghề dạy tiếng Anh và cũng đòi hỏi bạn có các kỹ năng nói, đọc, viết tiếng Anh hoàn hảo như người bản xứ. Đây là năng lực được nhiều nhà tuyển dụng Nhật săn đón. Và nếu bạn bập bẹ được vài câu chào tiếng Nhật thì bạn sẽ “bị” bắt dịch cho bạn bè hay trong công việc. Một số người đã tận dụng điều này để làm dịch thuật bán thời gian hoặc toàn thời gian.

Trước tình hình nhiều công ty Nhật muốn nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu, các dịch vụ dịch thuật đang thu hút thêm nhiều người mới. Nghề dịch thuật sẽ mở ra vô số cơ hội tốt cho bạn gặp gỡ mọi người, trong đó có những nhân vật quan trọng như các chủ tịch công ty, quan chức chính phủ, vấn đề là bạn có đủ giỏi đế được trả lương tốt hơn và đón nhận thêm cơ hội gặp gỡ nhiều người hay không.

Nhu cầu dịch tiếng Anh luôn cao vì sau gần mười năm học tiếng Anh trong hệ thống giáo dục theo lối từ chương của Nhật, học sinh hầu như không nhớ được gì ngoài một số từ vựng cơ bản. Bạn có thể dễ dàng tìm được công việc này ở các thành phố lớn so với những nơi khác, và sự cạnh tranh ở đó cũng cao hơn.

Nội dung dịch sẽ bao gồm bất cứ thứ gì, từ kiểm tra giấy tờ tiếng Anh đến dịch song song-phiên dịch cùng lúc với người nói với độ chính xác cao.

Một công việc phiên dịch Anh – Nhật ở các trình độ thấp hơn có thể khiến bạn bỏ lỡ một nửa nội dung vì người nói tiếng Anh chỉ lẩm bẩm một số từ. Điều này nghe có vẻ đáng sợ nhưng đừng lo lắng vì vốn tiếng Nhật hạn chế của bạn sẽ luôn luôn tốt hơn tiếng Anh của một người Nhật bình thường. Thậm chí nếu bạn không chính xác hoàn toàn, với tư cách là phiên dịch viên giỏi nhất trong phòng, vai trò thu hẹp khoảng cách ngôn ngữ của bạn vẫn được đánh giá rất cao.

Nghề nghiệp thứ hai là sáng tạo nội dung liên quan đến việc chia sẻ văn hóa Nhật bằng tiếng Anh hoặc Nhật.
Công việc này đòi hỏi bạn phải có một số kinh nghiệm viết, báo cáo, hoặc chụp ảnh. Các chủ đề mà bạn có thể viết rất đa dạng, từ thời trang tới ẩm thực, lịch sử tới văn hóa nhạc trẻ, các điểm du lịch tới âm nhạc, các chủ đề cần khám phá và chia sẻ… cùng nhiều cảm hứng vô tận khác.
Bạn cần có bí quyết và chút may mắn để bắt đầu một hợp đồng viết về Nhật Bản cho một website hay tạp chí tại Nhật. Nếu bạn đam mê công việc này thì đây là một cách tuyệt vời để bạn hiểu về nước Nhật nhiều hơn vì bạn sẽ chia sẻ những gì mình đã biết. Thậm chí bạn có thể tưởng tượng với khả năng và vận may của mình, một ngày nào đó mình sẽ trở thành cộng tác viên của GaijinPot.
Một số người nước ngoài đã tắm mình trong văn hóa Nhật đủ lâu đến mức trở thành các giáo sư chuyên giảng dạy về một hoặc nhiều khía cạnh văn hóa Nhật khắp các trường đại học bản địa và quốc tế.

Trên đây là bài viết giới thiệu 2 nghề nghiệp nóng trên thị trường việc làm cho người nước ngoài của một trong những dịch vụ việc làm trực tuyến hàng đầu nước Nhật, GaijinPot. Phân khúc việc làm này có thể đã có nhiều thay đổi kể từ bài viết trên (đăng ngày 18-10-2012). Bạn hãy tìm hiểu thêm để nắm bắt những thông tin mới nhất trước khi quyết định đến Nhật.

Dù lựa chọn của bạn là gì thì chỉ cần bạn chịu khó làm việc, tích cực cải thiện tiếng Nhật và mở rộng mạng lưới quan hệ tại Nhật, chắc chắn bạn sẽ có được những cơ hội tốt hơn trong các lĩnh vực trên hoặc những nghề nghiệp hoàn toàn mới khác cần đến vốn tiếng Anh của bạn.

Mỗi tháng công nhân Việt Nam tại Nhật thu nhập bao nhiêu?

Biến động tỉ giá đồng yên những năm gần đây đã làm cho mức lương cơ bản của người lao động Việt Nam xuất khẩu sang Nhật thay đổi rất nhiều. Vì vậy, chủ đề “lương cơ bản mình sẽ nhận được là bao nhiêu” luôn là vấn đề quen thuộc mà các công nhân quan tâm. Và sau lương cơ bản là những câu hỏi như: sau khi trừ các chi phí thì lương còn được bao nhiêu, lương theo thời gian làm việc sẽ thay đổi thế nào… Để giúp công nhân Việt Nam xuất khẩu sang Nhật hiểu vấn đề một cách dễ dàng hơn, bài viết này sẽ góp phần giải quyết các câu hỏi trên.

Mức lương cơ bản theo hợp đồng là bao nhiêu?

Hiện tại, mức lương cơ bản tối thiểu của người lao động Việt Nam đã ký hợp đồng với doanh nghiệp Nhật tùy theo từng vị trí nằm trong khoảng từ 120.000 – 150.000 yen mỗi tháng và gia tăng hàng năm với tỉ lệ nhất định theo từng khu vực nhưng không cao lắm nên có thể nói là hầu như không có thay đổi lớn trong vài năm gần đây. Mức lương của lao động Nhật ở vị trí tương đương sẽ cao hơn, vì vậy người xuất khẩu lao động không cần thắc mắc về lương, có thể yên tâm là mình sẽ được trả đúng theo mức lương đã nêu trong hợp đồng.

Website giúp đổi tiền Việt sang Nhật: http://vi.coinmill.com/JPY_VND.html

Theo quy định luật lao động Nhật Bản, mức lương trên được tính theo số giờ làm việc với thời gian 8h/ngày, 40-44h mỗi tuần. Vậy trung bình mỗi giờ người lao động Việt tại Nhật kiếm được khoảng 650-850 yen.

Theo tỉ giá đồng yên so với đồng Việt Nam thời điểm cuối 2014-đầu 2015, tiền lương mỗi tháng người Việt Nam được trả là 21-27 triệu, khoảng 1000-1270 USD (1 yen = 180 VND). Tỉ giá này đã thay đổi nhiều so với cao điểm năm 2012, thấp hơn đến 90 yen/VND (tỉ giá năm 2012 thời điểm cao nhất là 1 yen = 270 VND).

Trong hai năm qua đồng yen đã không ngừng tăng giá so với các đồng tiền mạnh khác trên thế giới do lợi nhuận trong các khu vực tư nhân và lợi nhuận của các nhà đầu tư quốc tế. Hiện tại, tỉ giá đầu tháng 1-2017 là 1 yen = 193 VND.

Trên thực tế, thu nhập hàng tháng của công nhân Việt Nam là bao nhiêu?

Tiền lương thực tế của các công nhân Việt Nam sẽ bằng tiền lương theo hợp đồng trừ đi 3 khoảng đầu tiên là: thuế, bảo hiểm, chi phí nội trú. Tiền ăn mỗi ngày do công nhân tự chi trả nên họ phải cố gắng tiết kiệm càng nhiều càng tốt. Theo thống kê, trung bình tiền lương thực nhận của công nhân ngành thực phẩm vào khoảng 80-110.000 yen/tháng (tính trên mức lương tối thiểu, lương thực tế sẽ còn cao hơn). Và trung bình mỗi tháng người Việt Nam tại Nhật kiếm được 15 đến 20 triệu đồng, chưa kể tiền làm tăng ca.

So với công nhân Việt Nam thì công nhân bản xứ được trả lương khá cao và có thể cao hơn nhiều. Vì vậy trên thực tế thu nhập mà người lao động Việt có thể nhận được là khá tốt, có khả năng cao hơn nhiều con số nêu trên; ước tính mức thu nhập phổ biến là 25-35 triệu đồng mỗi tháng.

 

Việc tăng lương và các yếu tố chi phối mức lương

Trên thực tế, tiền lương ước tính được người phỏng vấn thông báo cho công nhân thường thấp hơn tiền lương chính thức trong hợp đồng vì tâm lý của hầu hết chủ doanh nghiệp là: nếu bạn có thể chấp nhận mức lương thấp mà họ kỳ vọng, bạn sẽ thỏa mãn và làm việc tốt hơn so với việc công bố mức lương cao hơn ngay từ đầu. Thay vì cho ứng viên biết mức lương thực, các ông chủ sẽ cho bạn một con số thấp hơn một chút. Và tùy vào chất lượng công nhân mà các công ty sẽ xem xét có tăng lương không, thời gian và điều khoản tăng lương như thế nào. Trong một số trường hợp, tùy theo chất lượng công việc đã hoàn thành, thái độ và cảm nhận của người lao động mà có công nhân được tăng lương từ tháng thứ ba, có nơi tăng lương thường xuyên theo mỗi quý.

Theo nghiên cứu, mức lương cơ bản của nhân viên sẽ chịu ảnh hưởng của các yếu tố sau:

– Khu vực: các tỉnh khác nhau sẽ có mức lương khác nhau và lương ở vùng phụ cận sẽ thấp hơn khu trung tâm vì khi chi phí lương cao luôn đi kèm với chi phí ăn ở lớn.
– Loại nghề nghiệp, mức độ độc hại, nguy hiểm, nặng nhọc trong công việc. Ví dụ các ngành có thu nhập cao hơn mức lương phổ biến chung là sơn cơ khí, hàn, xây giàn giáo, đúc đồ kim loại…
– Đặc điểm và yêu cầu công việc: các ngành phay, bào, cơ khí chế tạo, mộc sẽ có thu nhập tốt. Ngay trong một ngành, các công đoạn khác nhau cũng có thu nhập khác nhau, như các công đoạn may, hoàn thiện, may thời trang… trong ngành may quần áo sẽ có thu nhập tương ứng.
– Thay đổi trong bảng lương doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp bảo vệ quyền lợi người lao động rất tốt vì không muốn khoảng cách lương giữa công nhân Việt Nam và bản xứ gây tâm lý chia rẽ hoặc không tốt. Nhờ đó thu nhập của người Việt Nam sẽ rất cao nếu lương của họ gần bằng mức lương mà các đồng nghiệp Nhật được chi trả.

Mức lương kỳ vọng trong những năm tới

Vì nhu cầu lao động bị thiếu hụt nên nhiều công ty đã tăng lương cơ bản cho công nhân lên một mức khá cao (từ 130.000 yen trở lên so với mức thấp nhất trước đây là 120.000 yen). Một yếu tố nữa là do khoảng cách lương giữa lao động Nhật và Việt Nam cùng vị trí còn khá lớn nên trong tương lai, mức lương hợp đồng của công nhân Việt Nam sẽ còn tiếp tục tăng cao.

Ngoài ra, từ tháng 4-2012 đến nay, chính phủ Nhật Bản đã phá giá đồng yên để khuyến khích sản xuất trong nước, kích thích nền kinh tế tăng trưởng mạnh hơn. Nhờ vậy nhu cầu nhân lực trong các doanh nghiệp Nhật ngày càng gia tăng, có nhiều công việc ổn định hơn, các yêu cầu về ngoại hình, tuổi tác, nghề nghiệp, học vấn… dành cho nhiều đối tượng được nới rộng và hạ thấp nhiều nhất có thể, điều này giúp cho việc quay lại Nhật Bản cũng dễ dàng hơn. Tình hình này cũng giúp đồng yen đang hạ giá và chạm đáy vào tháng 6-2015 đã tăng dần trở lại trong năm 2015 và 2016, đem lại cho các công nhân Việt Nam nhiều tiền hơn khi đổi ra tiền Việt nhờ chênh lệch tỉ giá.

Thị trường lao động Việt Nam: Tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất, chi phí lao động giá rẻ nhất

Việt Nam có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất

Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất trên thế giới nhưng số lượng lao động trẻ thất nghiệp là gấp ba lần tỷ lệ thất nghiệp trong nước.

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã phát hành một báo cáo cho thấy tỷ lệ nhỏ sự gia tăng trong tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam và tỷ lệ thất nghiệp cao hơn đối với những công việc dễ bị rủi ro.

Ông Guy Ryder của ILO cho biết các cuộc nghiên cứu cho thấy sự khả quan về viễn cảnh tìm việc làm tại Việt Nam. Cuộc khảo sát được tiến hành trong quý IV năm 2013 do Tổng cục Thống kê kết hợp với tổ chức ILO cho thấy số lượng việc làm tăng 862.000, tăng hơn 1,7 phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Tốc độ tăng trưởng việc làm cao nhất chủ yếu thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (chiếm 4,8 phần trăm) so năm 2012. Phần lớn việc làm được tạo ra trong các ngành về dịch vụ, công nghiệp và xây dựng.

Chi phí lao động Việt Nam chỉ bằng 1/3 Trung Quốc

Một trong những lí do khiến Samsung Electronics di chuyển nhà máy từ Trung Quốc sang Việt Nam vào giữa tháng 12 năm 2013 là do chi phí lao động Việt Nam rẻ hơn và chỉ bằng 1/3 Trung Quốc.

Một cuộc khảo sát của Tổ chức ngoại thương Nhật Bản (JETRO) trong năm 2012 cho biết một công nhân ở Bắc Kinh, Trung Quốc nhận được 466 đô la, trong khi một công nhân ở Hà Nội chỉ nhận được có 145 đô la một tháng.

Ông Lee Jung Soon của văn phòng xúc tiến thương mại và đầu tư Hàn Quốc cho biết xu hướng các nhà đầu tư nước ngoài chuyển nhà máy sang Việt Nam sẽ tăng trong 2- 3 năm nữa.

Điều kiện làm việc tệ

Công nhân Việt tại các nhà máy của Nokia và Samsung hiện nay phải làm việc trong môi trường và điều kiện làm việc không an toàn.

Theo thực tế, môi trường làm việc tại các nhà máy này vẫn có thể đáp ứng các yêu cầu theo quy định VSCP về các tiêu chuẩn quốc gia. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn này được xem là khỏi lạc hậu và chưa được cập nhật trong 20 năm qua, trong khi tác động của các yếu tố môi trường đến sức khỏe của người lao động đã không được xem xét.

Làm việc trong môi trường không an toàn, rất nhiều công nhân Việt Nam đã được chuẩn đoán mắc các bệnh như điếc, đau mắt, ung thư, sẩy thai và thai chết lưu.

Một công nhân đảm nhiệm công việc thử nghiệm điện thoại cho biết anh phải kiểm tra 76 sản phẩm mỗi ngày và thường xuyên gặp phải các triệu chứng ù tai trong ca làm việc của mình.

Một công nhân khác than phiền cô cảm thấy mỏi mắt sau tám tháng làm việc tại nhà máy, mặc dù trước khi làm việc cô đã được kiểm tra thị lực và được chẩn đoán là rất tốt.

Lao động trẻ ở lại thất nghiệp, công chức phong phú

Theo báo cáo của ILO cho thấy tỷ lệ thất nghiệp của lao động trẻ cao gấp ba lần so với tỷ lệ thất nghiệp trong nước trong quý IV năm 2013, chiếm 5,95 phần trăm.

Kinh tế suy thoái đã dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp cao. Báo cáo chính thức còn chỉ ra có 60.737 doanh nghiệp đã giải thể vào năm 2013 tăng 11,9 phần trăm so với năm 2012.

Mặc dù số lượng doanh nghiệp mới thành lập cao hơn so với số doanh nghiệp bị giải thể nhưng cũng không có nhiều doanh nghiệp có thể tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động.

 

Hội thảo về hợp tác đào tạo lao động Việt Nam-Nhật Bản

Các chính sách và biện pháp quản lý lao động cũng như thực tập sinh Việt Nam ở nước ngoài đã được giới thiệu tại buổi hội thảo ở Tokyo nhằm nâng cao hiệu quả của chương trình hợp tác Việt Nam-Nhật Bản trong đào tạo lao động kể từ năm 1992.

Hội thảo diễn ra vào ngày 15 tháng 4 với sự tham dự của 20 công ty xuất khẩu lao động Việt Nam và 120 công ty sử dụng lao động của Nhật Bản. Sự kiện này được phối hợp tổ chức bởi Bộ lao động, thương binh và xã hội (Bộ LĐTBXH), Đại sứ quán Việt Nam và Tổ chức Đào tạo Quốc tế Hợp tác Nhật Bản (JITCO).

Giới thiệu hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam http://jbav.vn/vi/

Phát biểu tại hội thảo, Chủ tịch JITCO Toshio Takano cho biết ông đánh giá cao sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có liên quan của Việt Nam và Nhật Bản trong việc quản lý xuất khẩu lao động sang Nhật.

Số lượng học viên Việt Nam được cử sang Nhật Bản đã tăng lên nhanh chóng, với số lượng 3.300 học viên Việt Nam trong năm 2007, Takano nói. Ông nói JITCO sẽ cố gắng nhiều hơn để làm gia tăng con số này trong tương lai.

Bộ trưởng Bộ LĐTBXH Nguyễn Thị Kim Ngân cho biết Việt Nam trong hơn 16 năm đã gửi hơn 30.000 lao động sang Nhật Bản để đào tạo kỹ thuật và thực hành trong các lĩnh vực như công nghiệp điện tử, cơ khí, may mặc, chế biến.

Các chương trình  đào tạo và các loại công việc tại Nhật Bản là rất phù hợp cho học viên Việt Nam, Bà Kim Ngân cho biết. Các công nhân đã học được nhiều kỹ năng có giá trị và áp dụng tốt khi họ quay trở về nước. Việt Nam đánh giá cao hiệu quả của các chương trình hợp tác đào tạo và mong muốn thúc đẩy hợp tác trong thời gian tới.

Hội thảo cũng đã tạo cơ hội cho các công ty xuất khẩu lao động Việt Nam và những công ty có sử dụng lao động của Nhật Bản chia sẻ kinh nghiệm của họ và đóng góp ý kiến ​​cho những cải tiến trong môi trường xuất khẩu lao động. Người sử dụng lao động của Nhật Bản khen ngợi sự siêng năng và trí thông minh ham học hỏi của các học viên Việt Nam.

Trước khi hội thảo diễn ra, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Ngân đã  gặp Bộ trưởng Tư phápKunio Hatoyama và Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản là Yoichi Masuzoe sau đó họ cùng nhau tham dự một buổi làm việc với JITCO và thăm các học viên Việt tại Tokyo vào ngày 14 tháng 4.

Bộ trưởng Ngân cũng tham dự một hội thảo về việc gửi học viên Việt Nam đến Nhật Bản do Hiệp hội Nhật Bản đã tổ chức để Phát triển nguồn nhân lực quốc tế của các doanh nghiệp vừa (IMM) tại thành phố Osaka và nhỏ vào ngày 16 tháng Tư.