Mỗi tháng công nhân Việt Nam tại Nhật thu nhập bao nhiêu?

Biến động tỉ giá đồng yên những năm gần đây đã làm cho mức lương cơ bản của người lao động Việt Nam xuất khẩu sang Nhật thay đổi rất nhiều. Vì vậy, chủ đề “lương cơ bản mình sẽ nhận được là bao nhiêu” luôn là vấn đề quen thuộc mà các công nhân quan tâm. Và sau lương cơ bản là những câu hỏi như: sau khi trừ các chi phí thì lương còn được bao nhiêu, lương theo thời gian làm việc sẽ thay đổi thế nào… Để giúp công nhân Việt Nam xuất khẩu sang Nhật hiểu vấn đề một cách dễ dàng hơn, bài viết này sẽ góp phần giải quyết các câu hỏi trên.

Mức lương cơ bản theo hợp đồng là bao nhiêu?

Hiện tại, mức lương cơ bản tối thiểu của người lao động Việt Nam đã ký hợp đồng với doanh nghiệp Nhật tùy theo từng vị trí nằm trong khoảng từ 120.000 – 150.000 yen mỗi tháng và gia tăng hàng năm với tỉ lệ nhất định theo từng khu vực nhưng không cao lắm nên có thể nói là hầu như không có thay đổi lớn trong vài năm gần đây. Mức lương của lao động Nhật ở vị trí tương đương sẽ cao hơn, vì vậy người xuất khẩu lao động không cần thắc mắc về lương, có thể yên tâm là mình sẽ được trả đúng theo mức lương đã nêu trong hợp đồng.

Website giúp đổi tiền Việt sang Nhật: http://vi.coinmill.com/JPY_VND.html

Theo quy định luật lao động Nhật Bản, mức lương trên được tính theo số giờ làm việc với thời gian 8h/ngày, 40-44h mỗi tuần. Vậy trung bình mỗi giờ người lao động Việt tại Nhật kiếm được khoảng 650-850 yen.

Theo tỉ giá đồng yên so với đồng Việt Nam thời điểm cuối 2014-đầu 2015, tiền lương mỗi tháng người Việt Nam được trả là 21-27 triệu, khoảng 1000-1270 USD (1 yen = 180 VND). Tỉ giá này đã thay đổi nhiều so với cao điểm năm 2012, thấp hơn đến 90 yen/VND (tỉ giá năm 2012 thời điểm cao nhất là 1 yen = 270 VND).

Trong hai năm qua đồng yen đã không ngừng tăng giá so với các đồng tiền mạnh khác trên thế giới do lợi nhuận trong các khu vực tư nhân và lợi nhuận của các nhà đầu tư quốc tế. Hiện tại, tỉ giá đầu tháng 1-2017 là 1 yen = 193 VND.

Trên thực tế, thu nhập hàng tháng của công nhân Việt Nam là bao nhiêu?

Tiền lương thực tế của các công nhân Việt Nam sẽ bằng tiền lương theo hợp đồng trừ đi 3 khoảng đầu tiên là: thuế, bảo hiểm, chi phí nội trú. Tiền ăn mỗi ngày do công nhân tự chi trả nên họ phải cố gắng tiết kiệm càng nhiều càng tốt. Theo thống kê, trung bình tiền lương thực nhận của công nhân ngành thực phẩm vào khoảng 80-110.000 yen/tháng (tính trên mức lương tối thiểu, lương thực tế sẽ còn cao hơn). Và trung bình mỗi tháng người Việt Nam tại Nhật kiếm được 15 đến 20 triệu đồng, chưa kể tiền làm tăng ca.

So với công nhân Việt Nam thì công nhân bản xứ được trả lương khá cao và có thể cao hơn nhiều. Vì vậy trên thực tế thu nhập mà người lao động Việt có thể nhận được là khá tốt, có khả năng cao hơn nhiều con số nêu trên; ước tính mức thu nhập phổ biến là 25-35 triệu đồng mỗi tháng.

 

Việc tăng lương và các yếu tố chi phối mức lương

Trên thực tế, tiền lương ước tính được người phỏng vấn thông báo cho công nhân thường thấp hơn tiền lương chính thức trong hợp đồng vì tâm lý của hầu hết chủ doanh nghiệp là: nếu bạn có thể chấp nhận mức lương thấp mà họ kỳ vọng, bạn sẽ thỏa mãn và làm việc tốt hơn so với việc công bố mức lương cao hơn ngay từ đầu. Thay vì cho ứng viên biết mức lương thực, các ông chủ sẽ cho bạn một con số thấp hơn một chút. Và tùy vào chất lượng công nhân mà các công ty sẽ xem xét có tăng lương không, thời gian và điều khoản tăng lương như thế nào. Trong một số trường hợp, tùy theo chất lượng công việc đã hoàn thành, thái độ và cảm nhận của người lao động mà có công nhân được tăng lương từ tháng thứ ba, có nơi tăng lương thường xuyên theo mỗi quý.

Theo nghiên cứu, mức lương cơ bản của nhân viên sẽ chịu ảnh hưởng của các yếu tố sau:

– Khu vực: các tỉnh khác nhau sẽ có mức lương khác nhau và lương ở vùng phụ cận sẽ thấp hơn khu trung tâm vì khi chi phí lương cao luôn đi kèm với chi phí ăn ở lớn.
– Loại nghề nghiệp, mức độ độc hại, nguy hiểm, nặng nhọc trong công việc. Ví dụ các ngành có thu nhập cao hơn mức lương phổ biến chung là sơn cơ khí, hàn, xây giàn giáo, đúc đồ kim loại…
– Đặc điểm và yêu cầu công việc: các ngành phay, bào, cơ khí chế tạo, mộc sẽ có thu nhập tốt. Ngay trong một ngành, các công đoạn khác nhau cũng có thu nhập khác nhau, như các công đoạn may, hoàn thiện, may thời trang… trong ngành may quần áo sẽ có thu nhập tương ứng.
– Thay đổi trong bảng lương doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp bảo vệ quyền lợi người lao động rất tốt vì không muốn khoảng cách lương giữa công nhân Việt Nam và bản xứ gây tâm lý chia rẽ hoặc không tốt. Nhờ đó thu nhập của người Việt Nam sẽ rất cao nếu lương của họ gần bằng mức lương mà các đồng nghiệp Nhật được chi trả.

Mức lương kỳ vọng trong những năm tới

Vì nhu cầu lao động bị thiếu hụt nên nhiều công ty đã tăng lương cơ bản cho công nhân lên một mức khá cao (từ 130.000 yen trở lên so với mức thấp nhất trước đây là 120.000 yen). Một yếu tố nữa là do khoảng cách lương giữa lao động Nhật và Việt Nam cùng vị trí còn khá lớn nên trong tương lai, mức lương hợp đồng của công nhân Việt Nam sẽ còn tiếp tục tăng cao.

Ngoài ra, từ tháng 4-2012 đến nay, chính phủ Nhật Bản đã phá giá đồng yên để khuyến khích sản xuất trong nước, kích thích nền kinh tế tăng trưởng mạnh hơn. Nhờ vậy nhu cầu nhân lực trong các doanh nghiệp Nhật ngày càng gia tăng, có nhiều công việc ổn định hơn, các yêu cầu về ngoại hình, tuổi tác, nghề nghiệp, học vấn… dành cho nhiều đối tượng được nới rộng và hạ thấp nhiều nhất có thể, điều này giúp cho việc quay lại Nhật Bản cũng dễ dàng hơn. Tình hình này cũng giúp đồng yen đang hạ giá và chạm đáy vào tháng 6-2015 đã tăng dần trở lại trong năm 2015 và 2016, đem lại cho các công nhân Việt Nam nhiều tiền hơn khi đổi ra tiền Việt nhờ chênh lệch tỉ giá.

Thị trường lao động Việt Nam: Tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất, chi phí lao động giá rẻ nhất

Việt Nam có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất

Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất trên thế giới nhưng số lượng lao động trẻ thất nghiệp là gấp ba lần tỷ lệ thất nghiệp trong nước.

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã phát hành một báo cáo cho thấy tỷ lệ nhỏ sự gia tăng trong tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam và tỷ lệ thất nghiệp cao hơn đối với những công việc dễ bị rủi ro.

Ông Guy Ryder của ILO cho biết các cuộc nghiên cứu cho thấy sự khả quan về viễn cảnh tìm việc làm tại Việt Nam. Cuộc khảo sát được tiến hành trong quý IV năm 2013 do Tổng cục Thống kê kết hợp với tổ chức ILO cho thấy số lượng việc làm tăng 862.000, tăng hơn 1,7 phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Tốc độ tăng trưởng việc làm cao nhất chủ yếu thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (chiếm 4,8 phần trăm) so năm 2012. Phần lớn việc làm được tạo ra trong các ngành về dịch vụ, công nghiệp và xây dựng.

Chi phí lao động Việt Nam chỉ bằng 1/3 Trung Quốc

Một trong những lí do khiến Samsung Electronics di chuyển nhà máy từ Trung Quốc sang Việt Nam vào giữa tháng 12 năm 2013 là do chi phí lao động Việt Nam rẻ hơn và chỉ bằng 1/3 Trung Quốc.

Một cuộc khảo sát của Tổ chức ngoại thương Nhật Bản (JETRO) trong năm 2012 cho biết một công nhân ở Bắc Kinh, Trung Quốc nhận được 466 đô la, trong khi một công nhân ở Hà Nội chỉ nhận được có 145 đô la một tháng.

Ông Lee Jung Soon của văn phòng xúc tiến thương mại và đầu tư Hàn Quốc cho biết xu hướng các nhà đầu tư nước ngoài chuyển nhà máy sang Việt Nam sẽ tăng trong 2- 3 năm nữa.

Điều kiện làm việc tệ

Công nhân Việt tại các nhà máy của Nokia và Samsung hiện nay phải làm việc trong môi trường và điều kiện làm việc không an toàn.

Theo thực tế, môi trường làm việc tại các nhà máy này vẫn có thể đáp ứng các yêu cầu theo quy định VSCP về các tiêu chuẩn quốc gia. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn này được xem là khỏi lạc hậu và chưa được cập nhật trong 20 năm qua, trong khi tác động của các yếu tố môi trường đến sức khỏe của người lao động đã không được xem xét.

Làm việc trong môi trường không an toàn, rất nhiều công nhân Việt Nam đã được chuẩn đoán mắc các bệnh như điếc, đau mắt, ung thư, sẩy thai và thai chết lưu.

Một công nhân đảm nhiệm công việc thử nghiệm điện thoại cho biết anh phải kiểm tra 76 sản phẩm mỗi ngày và thường xuyên gặp phải các triệu chứng ù tai trong ca làm việc của mình.

Một công nhân khác than phiền cô cảm thấy mỏi mắt sau tám tháng làm việc tại nhà máy, mặc dù trước khi làm việc cô đã được kiểm tra thị lực và được chẩn đoán là rất tốt.

Lao động trẻ ở lại thất nghiệp, công chức phong phú

Theo báo cáo của ILO cho thấy tỷ lệ thất nghiệp của lao động trẻ cao gấp ba lần so với tỷ lệ thất nghiệp trong nước trong quý IV năm 2013, chiếm 5,95 phần trăm.

Kinh tế suy thoái đã dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp cao. Báo cáo chính thức còn chỉ ra có 60.737 doanh nghiệp đã giải thể vào năm 2013 tăng 11,9 phần trăm so với năm 2012.

Mặc dù số lượng doanh nghiệp mới thành lập cao hơn so với số doanh nghiệp bị giải thể nhưng cũng không có nhiều doanh nghiệp có thể tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động.

 

Hội thảo về hợp tác đào tạo lao động Việt Nam-Nhật Bản

Các chính sách và biện pháp quản lý lao động cũng như thực tập sinh Việt Nam ở nước ngoài đã được giới thiệu tại buổi hội thảo ở Tokyo nhằm nâng cao hiệu quả của chương trình hợp tác Việt Nam-Nhật Bản trong đào tạo lao động kể từ năm 1992.

Hội thảo diễn ra vào ngày 15 tháng 4 với sự tham dự của 20 công ty xuất khẩu lao động Việt Nam và 120 công ty sử dụng lao động của Nhật Bản. Sự kiện này được phối hợp tổ chức bởi Bộ lao động, thương binh và xã hội (Bộ LĐTBXH), Đại sứ quán Việt Nam và Tổ chức Đào tạo Quốc tế Hợp tác Nhật Bản (JITCO).

Giới thiệu hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam http://jbav.vn/vi/

Phát biểu tại hội thảo, Chủ tịch JITCO Toshio Takano cho biết ông đánh giá cao sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có liên quan của Việt Nam và Nhật Bản trong việc quản lý xuất khẩu lao động sang Nhật.

Số lượng học viên Việt Nam được cử sang Nhật Bản đã tăng lên nhanh chóng, với số lượng 3.300 học viên Việt Nam trong năm 2007, Takano nói. Ông nói JITCO sẽ cố gắng nhiều hơn để làm gia tăng con số này trong tương lai.

Bộ trưởng Bộ LĐTBXH Nguyễn Thị Kim Ngân cho biết Việt Nam trong hơn 16 năm đã gửi hơn 30.000 lao động sang Nhật Bản để đào tạo kỹ thuật và thực hành trong các lĩnh vực như công nghiệp điện tử, cơ khí, may mặc, chế biến.

Các chương trình  đào tạo và các loại công việc tại Nhật Bản là rất phù hợp cho học viên Việt Nam, Bà Kim Ngân cho biết. Các công nhân đã học được nhiều kỹ năng có giá trị và áp dụng tốt khi họ quay trở về nước. Việt Nam đánh giá cao hiệu quả của các chương trình hợp tác đào tạo và mong muốn thúc đẩy hợp tác trong thời gian tới.

Hội thảo cũng đã tạo cơ hội cho các công ty xuất khẩu lao động Việt Nam và những công ty có sử dụng lao động của Nhật Bản chia sẻ kinh nghiệm của họ và đóng góp ý kiến ​​cho những cải tiến trong môi trường xuất khẩu lao động. Người sử dụng lao động của Nhật Bản khen ngợi sự siêng năng và trí thông minh ham học hỏi của các học viên Việt Nam.

Trước khi hội thảo diễn ra, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Ngân đã  gặp Bộ trưởng Tư phápKunio Hatoyama và Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản là Yoichi Masuzoe sau đó họ cùng nhau tham dự một buổi làm việc với JITCO và thăm các học viên Việt tại Tokyo vào ngày 14 tháng 4.

Bộ trưởng Ngân cũng tham dự một hội thảo về việc gửi học viên Việt Nam đến Nhật Bản do Hiệp hội Nhật Bản đã tổ chức để Phát triển nguồn nhân lực quốc tế của các doanh nghiệp vừa (IMM) tại thành phố Osaka và nhỏ vào ngày 16 tháng Tư.

 

 

Văn hóa, không gian làm việc và phóng cách quản lý của công ty Nhật

Văn hóa coi trọng sự nghiệp
Do văn hóa khuyến khích làm việc, người Nhật thường cho rằng thời gian làm việc sẽ quyết định các cơ hội thăng tiến. Yếu tố này đôi khi còn quan trọng hơn chất lượng công việc, vì vậy những trường hợp làm việc tới 60 giờ mỗi tuần không phải là chuyện lạ, dù nó trái với quy định trong luật lao động ở xứ mặt trời mọc (luật lao động Nhật Bản quy định số giờ làm việc tượng trưng mỗi tuần là 40 giờ, một số trường hợp lên tới 44 giờ nhưng không quá 8 tiếng/ngày). Điều này đã dẫn tới hiện tượng chết vì quá tải công việc (karo-shi) một cách ngẫu nhiên ở một số công nhân bản xứ làm việc tại doanh nghiệp.

Một may mắn cho các công nhân nước ngoài là hiện tượng karo-shi khá hiếm và họ thường không bị áp lực về số giờ làm việc như các đồng nghiệp Nhật Bản.

Không gian làm việc tại Nhật

Bàn làm việc kiểu Nhật được tổ chức dạng mở (obeya seido) cho phép nhóm các bàn theo từng đội công nhân, mỗi đội có 1 đội trưởng chịu trách nhiệm lên kế hoạch công việc mỗi ngày trong cuộc họp buổi sáng (chorei). Một văn phòng Nhật thường có 2 chorei mỗi ngày: một cuộc họp tổng quát do các nhân viên cấp cao dẫn dắt và một cuộc họp nhỏ hơn, chuyên sâu hơn do các đội trưởng dẫn dắt đội mình.

Cấu trúc mở và phong cách quản lý Nhật Bản chú trọng sự hợp tác sẽ khiến nhiều công nhân nước ngoài cảm thấy văn phòng Nhật khá ồn ào.

Một điều quan trọng nữa mà các công nhân nước ngoài trong văn phòng Nhật phải thích ứng là hút thuốc. Theo luật, hút thuốc tại nơi làm việc ở Nhật là bất hợp pháp (ngoại trừ một vài nơi như các cơ sở y tế). Vì vậy, nếu bạn mắc một chứng bệnh có nguy cơ trầm trọng hơn do khói thuốc thì hãy tham khảo chính sách hút thuốc lá tại công ty trước khi đồng ý nhận thư mời làm việc. Và những người nước ngoài thích hút thuốc lá sẽ sớm bị cô lập, trở thành kẻ gây khó chịu trong văn phòng nếu đến làm việc với một chứng bệnh về đường hô hấp và liên tục hút thuốc.

Phong cách quản lý kiểu Nhật
Nguyên tắc chính trong phong cách này là sự hài hòa của nhóm (wa). Thay vì đặt ra các mệnh lệnh và trọng tâm trong công việc, các nhà quản lý Nhật sẽ tập trung nhiều hơn vào việc cung cấp thông tin và các nguồn lực cần thiết để nhân viên vượt trội. Do đó, nền tảng trong các thực hành kinh doanh Nhật Bản là xây dựng sự đồng thuận (nemawashi) để qua đó các ý kiến của công nhân sẽ được thông qua trong nội bộ nhóm trước khi trình lên quản lý cấp cao hay các công ty khác (sự chấp thuận trong nhóm). Sự chấp thuận trong nhóm có nghĩa là các cá nhân sẽ thoát khỏi sự hổ thẹn trước đám đông về lỗi của họ, một tấm lưới an toàn về mặt danh dự cho người Nhật vốn xem những sự hổ thẹn rất nhỏ trước đám đông cũng là một thất bại.

Nhật Bản mở cửa cho thị trường lao động Việt Nam

Để chuẩn bị cho thế vận hội Olympic năm 2020 Nhật Bản tuyển dụng nhiều hơn lao động Việt Nam và kế hoạch tương lai là mở rộng kinh doanh tại Việt Nam.

Nhu cầu tuyển dụng lao động Việt Nam của Nhật Bản đã tăng lên đáng kể so với năm ngoái, đặc biệt là các lĩnh vực về xây dựng và nông nghiệp cũng như kế hoạch gia hạn hợp đồng cho lao động nước ngoài tại Nhật Bản thêm vài năm, theo phóng viên báo Tuổi Trẻ.

Theo ông Lê Anh Tuấn, giám đốc công ty xuất khẩu lao động Trancimexco của Bộ Giao thông vận tải cho biết nhu cầu tuyển dụng lao động của Nhật Bản tăng 20 phần trăm so với cùng kỳ năm ngoái. Điều này đã giúp công ty đạt được mục tiêu xuất khẩu 250 lao động trong năm nay trong khi năm ngoái là 180 lao động.

“Nhiều công ty ký kết hợp đồng với chúng tôi cho biết rằng việc tuyển dụng lớn hơn là để chuẩn bị cho kế hoạch đầu tư và sản xuất tại Việt Nam trong tương lai của Nhật Bản”, ông Tuấn cho biết.

Bà Thân Thị Thảo, Phó Giám đốc xuất khẩu lao động Hồ Chí Minh thuộc (Công ty Cổ phần Dịch vụ Toàn cầu nhân lực), cho biết việc tuyển dụng lao động tại Nhật của công ty tăng lên gấp đôi trong quý đầu tiên.

“Chúng tôi đã gửi hơn 100 lao động sang Nhật Bản vào năm 2013. Với xu thế này chúng tôi tin rằng có thể hoàn thành mục tiêu đưa khoảng hơn 150 lao động sang Nhật Bản “, bà Thảo nói thêm.

Biển Đông, các công ty con của Tổng công ty xuất khẩu lao động Sản phẩm biển quốc gia Việt Nam trong thành phố, đã gửi gần 30 lao động sang Nhật Bản trong năm nay và dự kiến sẽ gửi thêm 20 lao động vào cuối tháng này, trong khi họ vẫn còn thiếu 50 ứng viên mới đáp ứng nhu cầu tuyển dụng.

Một đại diện từ công ty cho biết họ đã phải cử người tìm kiếm lao động ở miền Trung, đó là khu vực nghèo nhất nước với khí hậu và địa hình điều kiện khắc nghiệt  buộc nhiều người phải di chuyển đến một trong hai phía bắc hay phía nam để làm việc.

“Nhưng cũng rất khó để tuyển đủ người như nhiều doanh nghiệp săn đầu người khác”

Ông Nguyễn Gia Liêm, người đứng đầu Ban Quản lý lao động Việt Nam ở Nhật Bản có bài phỏng vấn với báo Tuổi Trẻ và cho rằng Nhật Bản cần hàng ngàn lao động để chuẩn bị cho Thế vận hội Olympic mùa hè năm 2020.

Nhật Bản cũng muốn thúc đẩy sự phục hồi các khu vực bị hư hại trong trận động đất và thảm họa sóng thần năm 2011, trong khi đó ngành nông nghiệp thì lại thiếu lao động nghiêm trọng. Ông Liêm còn cho biết một tin tốt lành là nhiều nhóm doanh nghiệp Nhật Bản có kế hoạch gia tăng điều khoản hợp đồng với người lao động nước ngoài.

“Họ đề xuất rằng chúng ta tăng các điều khoản hợp đồng trong một số lĩnh vực, từ một đến ba năm đối với các công việc đơn giản như chế biến thực phẩm, và từ 3-5 năm về lĩnh vực xây dựng.” Ông Liêm cho biết cuộc đàm phán về mở rộng sẽ bắt đầu tháng sáu này.

Ông Vũ Trường Giang, người đảm nhiệm vai trò quản lý thị trường lao động Nhật Bản tại Sở Lao động ở nước ngoài cho biết xuất khẩu lao động đã không đưa những tin tức tốt nào ngoài việc cung cấp lao động có trình độ.

“Người Nhật luôn luôn ưu tiên chất lượng, vì thế các doanh nghiệp có cơ hội tuyển dụng lao động cần phải chuẩn bị kỹ lưỡng. Họ phải đào tạo các ứng viên phù hợp để tạo ấn tượng tốt trong mắt nhà tuyển dụng”.

“Nếu các nhóm đầu tiên làm việc tốt thì sẽ là cơ hội để Việt Nam giữ vững thị trường ổn định và gia tăng thêm lao động. Nếu doanh nghiệp chỉ quan tâm đến số tiền thu được và không phải là chất lượng lao động cho họ thì sớm hay muộn cơ hội cũng sẽ mất đi”.

 

Chương trình lương hưu cho nhân viên tại Nhật Bản

Bảo hiểm lương hưu Nhật Bản hay chương trình lương hưu cho nhân viên

Nhật Bản cung cấp cho tất cả công nhân một chương trình tiết kiệm dài hạn để đảm bảo họ đều có tiền lương hưu sau khi nghỉ việc ở tuổi về hưu.

Theo đó, trước đây khoản thuế lương hưu của mỗi công nhân Nhật là 16% tiền lương, trong đó công nhân chi trả 8% và người sử dụng lao động đóng cho họ 8% còn lại. Hiện nay khoản thuế này đã tăng lên 18,3% từ năm 2017 (mỗi bên sẽ đóng một nửa tỉ lệ này). Công nhân sẽ được nhận tiền lương hưu khi về già (từ tuổi 60 trở đi), mắc bệnh nghiêm trọng (các loại bệnh khiến công nhân không còn khả năng lao động) hoặc chết (trong trường hợp này tiền lương hưu sẽ được trả cho người thân còn sống của công nhân).

Tại Nhật, một công nhân nước ngoài phải đóng vào chương trình lương hưu ít nhất 25 năm để đủ điều kiện nhận phúc lợi lương hưu. Tuy nhiên, vì nhiều công nhân nước ngoài không ở Nhật đủ lâu để đạt điều kiện này, chính phủ Nhật cho phép họ được nhận tiền hoàn lại từ các khoản bảo hiểm lương hưu đã đóng góp khi rời nước Nhật. Sau khi rời Nhật, họ đủ điều kiện để xin hoàn lại một lần duy nhất các khoản đóng góp lương hưu, chỉ cần nhớ một thủ tục đơn giản là xin tờ đơn từ văn phòng bảo hiểm xã hội địa phương trước khi về nước, điền đầy đủ chi tiết và nộp đơn cho văn phòng phụ trách vụ việc này tại Nhật sau khi về tới nước mình. Họ sẽ nhận lại số tiền này qua đường bưu điện.

Các hiệp định lương hưu quốc gia

Một số quốc gia đã ký với Nhật các hiệp định lương hưu để miễn cho công nhân nước mình việc đóng bảo hiểm lương hưu tại Nhật. Để đủ điều kiện được miễn khoản này, các công nhân chỉ cần nộp giầy tờ phù hợp cho văn phòng an ninh xã hội tại nơi họ ở. Việc này sẽ giúp họ thoát khỏi những rắc rối của quy trình rút tiền lương hưu một lần đã nêu trong phần trước. Danh sách tất cả các quốc gia đã có hiệp định lương hưu chung với Nhật có thể được tìm thấy trên website của tổ chức ngoại thương Nhật Bản, dưới bảng “Bảo hiểm lương hưu của nhân viên”.

Nếu chưa xác định rõ thời gian làm việc Nhật sẽ kéo dài bao lâu và vẫn muốn đóng bảo hiểm lương hưu cho hệ thống ở Nhật để được lãnh lương hưu một lần thì các công nhân nước ngoài không cần nộp hồ sơ miễn trừ.

Các điều khoản đặc biệt trong hiệp định lương hưu

Công nhân đến từ những nước đã ký hiệp định lương hưu chung với Nhật Bản sẽ được quyền tiếp cận quỹ hưu trí tại Nhật nếu thời gian đóng bảo hiểm lương hưu cho cả 2 hệ thống ở Nhật và nước sở tại đủ 25 năm. Có 2 loại thỏa thuận: tổng số và loại trừ.

  • Tổng số: thời gian đóng bảo hiểm lương hưu ở nước nào (giữa Nhật và nước sở tại) lâu hơn thì công nhân được tính đủ điều kiện nhận phúc lợi lương hưu ở nước đó (tổng thời gian đóng cho cả 2 nước phải đủ 25 năm trở lên)
  • Loại trừ: Mục đích của hiệp định loại này là để hạn chế việc đóng bảo hiểm tại cả 2 nước. Công nhân chỉ đủ điều kiện nhận phúc lợi lương hưu tại Nhật nếu thời gian đóng bảo hiểm lương hưu tại Nhật lâu hơn 5 năm. Thông thường các công nhân vẫn chọn đóng bảo hiểm cho hệ thống nước mình nếu thời gian làm việc kéo dài hơn dự kiến ban đầu là 5 năm (5 năm là nhiệm kỳ thông thường nếu được cử đi công tác nước ngoài).

Tình hình thiếu hụt lao động trầm trọng tại Nhật và cơ hội cho công nhân Việt Nam

Do chính sách kích thích kinh tế của thủ tướng Nhật Shinzo Abe trong 3 năm từ khi lên nắm quyền (2012), nhu cầu nhân lực tại Nhật Bản ngày càng gia tăng; cụ thể là tỉ lệ thất nghiệp đã giảm xuống còn 3%, số cơ hội việc làm cho mỗi ứng viên là 1,74, tỉ lệ cao nhất kể từ năm 1992. Tuy nhiên dân số trong độ tuổi lao động tại Nhật đang giảm dần, ước tính khoảng 1 triệu người mỗi năm. Trước tình hình này, đã có nhiều giải pháp được đưa ra từ phía chính phủ lẫn doanh nghiệp để lấp các chỗ trống trên thị trường lao động, theo Financial Times số tháng 9-2016.

Trong các lĩnh vực cần lao động giá rẻ, một số công ty như tập đoàn bán lẻ Lawson đã có sáng kiến mở rộng nguồn tuyển. Họ đã đề ra một chương trình chỉ dành cho đối tượng sinh viên sắp du học tại Nhật (không phân biệt ngành học, học phí, visa). Các sinh viên này sẽ được đào tạo các cách giao tiếp lịch sự để chào đón khách trong vòng 1 tháng tại các trung tâm đào tạo của Lawson ở nước mình trước khi lên đường sang Nhật. Việc đào tạo sẽ giúp các sinh viên này dễ dàng tìm được công việc bán thời gian trong hàng ngàn cửa hàng tiện lợi của Lawson tại Nhật. Tại Việt Nam, kế hoạch của Lawson là tuyển chọn 100 sinh viên trong năm đầu tiên và mở rộng trong những năm tiếp theo, đại diện hãng này cho biết. Số này sẽ được đào tạo tại Hà Nội hoặc TP.HCM.

Động thái của Lawson chỉ là một trong nhiều hoạt động thúc đẩy tỉ lệ nhập cư ngắn hạn gia tăng mạnh mẽ. Theo thống kê, số người nước ngoài ở Nhật đã tăng tới gần 10%, lên đến 2,2 triệu người, trong đó số lượng thực tập kỹ thuật tăng 27%, sinh viên nước ngoài tăng 36%. Vì nhập cư vĩnh viễn được kiểm soát rất chặt chẽ nên nhập cư ngắn hạn là giải pháp mà các công ty Nhật dùng để kiểm soát lạm phát tiền lương, với tỉ lệ công nhân nhập cư chiếm 10-15% trong tổng số công việc được tạo ra trong hơn 3 năm qua dưới thời Abe.

Ngoài ra, trong một số lĩnh vực chủ yếu dành cho người nhập cư ngắn hạn như thực tập kỹ thuật tại các công ty công nghệ cao, chính phủ đã áp dụng một loại visa ngắn hạn để thu hút thêm công nhân từ các nước phát triển đến tham gia các chương trình đào tạo có thể kéo dài tới 3 năm. Con số này đã tăng từ 41.178 lên 192.655 người, trong đó hơn phân nửa là người Trung Quốc. Tỉ lệ thực tập viên người Việt Nam cũng tăng đáng kể, lên tới 7.581 người, gấp 3 lần so với trước. Tỉ lệ này cho thấy mối quan hệ công nghiệp ngày càng chặt chẽ giữa nền kinh tế vào loại hàng đầu thế giới Nhật bản và nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh Việt Nam. Số lượng sinh viên du học tại Nhật cũng tăng từ 65.760 lên 246.679 cùng với việc chính phủ mở rộng visa cho phép làm thêm bán thời gian. Số lượng này đã có sự chuyển biến mạnh mẽ nhờ kinh tế được khôi phục sau thảm họa sóng thần-hạt nhân ở Fukushima năm 2011. Tuy nhiên động lực chân thực của hầu hết sinh viên là học nên nhóm này chỉ bù đắp được một phần nhỏ trong bức tranh thiếu hụt lao động tại Nhật.

Trong chương trình tập sự kỹ thuật, ngoài các tập sự chân chính cũng có những lao động giá rẻ được ngụy trang để bổ sung nhân lực vào các ngành cần công nhân trình độ thấp, giáo sư kinh tế Fukao đến từ đại học Keio cho biết. Do đó, mặc dù chính sách nhập cư ngắn hạn đã giảm bớt áp lực về lao động giá rẻ nhưng với các công ty cần lao động trình độ cao, tình hình vẫn rất bi đát. Cho đến nay mới chỉ có vài ngàn người đến Nhật trong một số chương trình dành cho công nhân nước ngoài có kỹ năng tốt. Chính phủ phải tiếp tục cải thiện chính sách cho nhóm này, đặc biệt là trong các ngành như điều dưỡng y tế dù việc gia tăng nhập cư vẫn gây tranh cãi. Theo giáo sư Fukao, trong bối cảnh thiếu hụt lao động trầm trọng, sự kháng cự lao động nhập cư đang giảm dần và chính phủ nên khôi phục lại kế hoạch cấp visa cho các ứng viên dựa theo trình độ Nhật ngữ dưới trào cựu thủ tướng Junichiro Koizumi.

 

Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu lao động

Việt Nam đặt mục tiêu gửi 90.000 lao động ra nước ngoài trong năm 2015, Phó Giám đốc Cục quản lý lao động ngoài nước Tống Hải Nam đã nói với Thời Báo Kinh Tế Việt Nam (Viet Nam Economic Times).

Bao nhiêu lao động Việt Nam đang làm việc tại nước ngoài: http://vneconomy.vn/thoi-su/lao-dong-viet-di-lam-viec-o-nuoc-ngoai-dat-muc-ky-luc-20160123083358145.htm

Năm ngoái là một năm thành công của Việt Nam trong việc gửi lao động sang nước ngoài. Bạn có vui lòng giải thích lý do tại sao không?

Trong năm 2014, mặc dù nền kinh tế thế giới vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, số lượng lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài tăng lên rất nhiều, đặc biệt là đến Nhật Bản và Đài Loan. Lao động Việt Nam đã cải thiện kỹ năng của họ đáng kể – và kiến thức của họ về ngoại ngữ và kỷ luật. Ngoài ra, Chính phủ đã thực hiện một số điều chỉnh trong chính sách cho phép nhiều người lao động đi nước ngoài.

Do khủng hoảng kinh tế kéo dài, nhu cầu về lao động nước ngoài tại nhiều quốc gia trong năm 2014 là thấp. Điều này dẫn đến sự cạnh tranh khốc liệt giữa các quốc gia xuất khẩu động.

Việt Nam cũng phải đối mặt với một số vấn đề về người lao động. Những hành vi vi phạm kỷ luật lao động đã được báo cáo, đặc biệt là tại các thị trường lao động có tiềm năng. Ví dụ, một số lao động vi phạm hợp đồng hoặc từ chối để trở về nhà sau khi hợp đồng của họ kết thúc.

Mặc dù tất cả những vấn đề đó, các thống kê của Cục Quản lý lao động ngoài nước cho thấy trong năm 2014, khoảng 60.000 lao động Việt Nam làm việc tại Đài Loan. Đó là năm tuyệt vời nhất trong vòng 14 năm.

Đài Loan là một thị trường gần gũi và thân thiện cho người lao động Việt Nam. Hơn nữa nơi đây không phải là một thị trường có yêu cầu cao. Điều quan trọng hơn, tiền lương cơ bản cao hơn so với các thị trường khác, khoảng 630 đô mỗi tháng. Ngoài ra, bảo vệ pháp lý hỗ trợ cho người lao động nước ngoài là toàn diện.

Điều gì đã dẫn đến sự gia tăng trong thị trường lao động Đài Loan? Còn thị trường Nhật Bản thì sao?

Theo tôi, có rất nhiều lý do cho sự gia tăng người lao động Việt tại Đài Loan vào năm 2014. Thứ nhất, vào cuối năm 2011, Đài Loan đã thông qua một chính sách để thúc đẩy phát triển kinh tế và tạo công ăn việc làm.

Kể từ đó, chính sách này đã là tạo động lực cho sự gia tăng lao động nước ngoài ở trong nước. Trong khi đó, nhu cầu cung ứng lao động đã giảm ở các nước khác, bao gồm Thái Lan, Indonesia và Philippines. Tận dụng lợi thế, các công ty xuất khẩu lao động Việt Nam tuyển dụng nhân viên có trình độ và sau đó đào tạo bổ sung trước khi gửi sang Đài Loan.

Đối với thị trường Nhật Bản, nhu cầu đối với người lao động là rất cao, đặc biệt đối với các học viên thực tập kỹ thuật. Trong quá khứ, các học viên Việt làm việc chủ yếu trong các lĩnh vực kỹ thuật, điện tử, may mặc, nhưng trong ba năm qua, họ đã được cung cấp thêm nhiều sự lựa chọn. Ví dụ, họ có thể làm việc trong kỹ thuật xây dựng, nông nghiệp, công nghiệp chế biến thực phẩm, may mặc và những thứ khác.

Để chuẩn bị cho Thế vận hội Tokyo vào năm 2020, Nhật Bản có kế hoạch tăng số lượng học viên thực tập kỹ thuật nước ngoài chuyên về kỹ thuật xây dựng. Vì vậy, đây là một thị trường đầy hứa hẹn cho các cựu học viên thực tập Việt Nam.

Quan điểm xuất khẩu lao động của Việt Nam trong năm nay là gì? Việc thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN có ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu lao động của chúng tôi hay không?

Việt Nam đã đặt mục tiêu xuất khẩu 90.000 lao động trong năm 2015. Theo tôi, thị trường xuất khẩu lao động của chúng tôi sẽ tập trung vào các thị trường truyền thống. Tôi tự tin với kỹ năng lao động giỏi và thông thạo ngoại ngữ, công nhân của chúng tôi sẽ có thể đáp ứng nhu cầu cao từ các chủ lao động nước ngoài.

Vào cuối năm 2015, khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN được thành lập, tất cả các công dân ASEAN chuyên môn trong 8 việc sau, cụ thể là kế toán, kiến trúc, nha khoa, công tác y tế, kỹ thuật, điều dưỡng, hậu cần và dịch vụ nhà hàng khách sạn, sẽ được tự do làm việc trong bất cứ quốc gia ASEAN nào mà họ muốn. Tất nhiên, những người có chuyên môn và thành tích học tập cũng như tiếng Anh tốt sẽ được lựa chọn đầu tiên.

 

 

Đài Loan là nước dẫn đầu trong thị trường xuất khẩu lao động của Việt Nam

Theo Đài Bắc vào ngày 13 tháng 3 ( CNA), Đài Loan là nước có thị trường xuất khẩu lao động lớn nhất của Việt Nam trong hai tháng đầu năm nay, với số lượng công nhân Việt Nam được tuyển dụng  là 10,906 công nhân. Theo thống kê mới nhất từ cơ sở dữ liệu chính thức từ Hà Nội.

Theo một báo cáo chính thức được đăng tải trên VGA News, trang web của tờ báo mạng của chính phủ bằng tiếng Việt, có tổng cộng khoảng 17,206 người Việt đã được gửi ra nước ngoài để làm việc trong khoảng thời gian là hai tháng, theo trích dẫn số liệu thống kê tổng hợp của Cục Quản lý lao động ngoài nước.

Xem mức lương trung bình của người Việt tại Đài Loan:
http://vieclamdailoan.vn/muc-luong-trung-binh-khi-di-xkld-dai-loan-171.htm

Trong bản báo cáo cũng cho thấy chỉ tính riêng trong tháng Hai, có khoảng  8,537 công nhân Việt Nam đã được gửi ra nước ngoài, trong đó có 5770 đến Đài Loan, 1.884 người đến Nhật Bản và 295 người đến làm việc ở Ả-rập Xê-út.

Đài Loan dự kiến ​​sẽ thuê thêm công nhân từ Việt Nam sang trong năm nay theo như kế hoạch để kết thúc đợt nhập khẩu ngư dân Việt Nam, người chăm sóc và người giúp việc.

Bộ trưởng Lao Động Chen Hsiung-wen cho biết việc nhập khẩu lao động có thể kết thúc sớm so với kế hoạch trước tháng 6 nếu nếu cuộc đàm phán giữa hai nước trong tiến trình giải quyết vấn đề diễn ra thành công.

Các nhà chức trách của hai bên dự kiến ​​sẽ tổ chức một cuộc họp vào cuối tháng để thảo luận về việc cấm nhập khẩu những người lao động đã từng qua làm việc theo dạng người chăm sóc và người giúp việc tại Đài Loan. Và sau đó sẽ có một cuộc họp cấp cao được diễn ra vào tháng tiếp theo.

Do vấn đề bỏ trốn nghiêm trọng nên Đài Loan đã đưa ra một lệnh cấm không nhận ngư dân Việt Nam vào tháng 5 năm 2004, và không nhận những người giúp việc và chăm sóc người già từ Việt Nam vào tháng giêng năm 2005. Ngoài ra công nhân trong những ngành khác vẫn nhập khẩu bình thường.

Trong khi chờ đợi một kế hoạch của Indonesia về việc cắt giảm số lượng người lao động của Indonesia sẽ gửi đến Đài Loan và các nước khác trong khu vực châu Á và Thái Bình Dương thì Đài Loan đã có hơn 174.000 người lao động đến từ Indonesia. Trong khi chờ đợi quyết định phục hồi lao động từ Việt Nam thì Đài Loan vẫn tiếp nhận nguồn lực từ các nước khác.

Theo thống kê chính thức trong số khoảng 219.000 người chăm sóc nước ngoài tại Đài Loan có hơn 174.000 đến từ Indonesia ( chiếm khoảng 79%).

Việc thay đổi lệnh cấm đối với ngư dân Việt Nam và người chăm sóc đã góp phần cải thiện vấn đề bỏ trốn. Cũng nhờ vào biện pháp xử phạt thích đáng của chính phủ Hà Nội đã giúp đạt được chỉ tiêu về tuyển dụng công nhân Việt Nam tại Đài Loan.